
Chi phí sản xuất chung cố định theo công suất bình thường (VAS 02): ghi phần chưa hấp thụ vào giá vốn 632 trên ERP
Biên soạn: Đội tư vấn Oracle NetSuite, S4 Consulting · Thẩm định chuyên môn: Lạc Phạm, Solution Architect, S4 Consulting · Cập nhật: 28/10/2026
Chi phí sản xuất chung cố định chỉ được tính vào giá thành sản phẩm theo mức công suất bình thường của máy móc; khi sản lượng thực tế thấp hơn công suất bình thường, phần không phân bổ được ghi nhận vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ, thực tế hạch toán vào giá vốn hàng bán 632. Đây là quy định của Chuẩn mực kế toán số 02 Hàng tồn kho (VAS 02) và là một trong những điểm kế toán Việt Nam thường phải xử lý bằng Excel khi dùng ERP quốc tế. Bài viết giải thích quy định, ví dụ tính tỷ lệ hấp thụ và cách S4 eSuite VN Actual Costing xử lý tự động trên Oracle NetSuite.
VAS 02 quy định gì về chi phí sản xuất chung cố định và công suất bình thường?
VAS 02 yêu cầu phân bổ chi phí sản xuất chung cố định vào chi phí chế biến dựa trên công suất bình thường, không dựa trên sản lượng thực tế khi sản lượng thấp. Theo chuẩn mực, giá gốc thành phẩm gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Chi phí sản xuất chung cố định là những khoản gián tiếp thường không thay đổi theo số lượng sản phẩm, như khấu hao, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị, nhà xưởng và chi phí quản lý hành chính ở phân xưởng. Công suất bình thường là số lượng sản phẩm đạt được ở mức trung bình trong các điều kiện sản xuất bình thường.
Khi sản lượng thực tế thấp hơn công suất bình thường, chi phí sản xuất chung cố định chỉ được phân bổ theo mức công suất bình thường, phần còn lại ghi vào chi phí trong kỳ. Hướng dẫn tài khoản 154 theo Thông tư 99/2025/TT-BTC cũng nêu rõ phần chi phí sản xuất chung cố định không phân bổ không được tính vào giá thành mà hạch toán vào giá vốn 632. Ý nghĩa kinh tế rất rõ: chi phí của phần công suất bỏ trống là chi phí của sự kém hiệu quả, không phải giá trị tạo ra trong sản phẩm, nên không được “cất” vào tồn kho để chờ ghi nhận ở kỳ sau.
Làm sao tách chi phí sản xuất chung biến đổi và cố định trên sổ cái?
Cách thực tế nhất là tách ngay từ tài khoản chi tiết hoặc từ phân loại bộ phận, class trên sổ cái, rồi gom vào các nhóm chi phí riêng. Chi phí biến đổi thay đổi gần như theo sản lượng, nên luôn được phân bổ toàn bộ vào sản phẩm sản xuất trong kỳ. Chi phí cố định phải đi qua bước tính tỷ lệ hấp thụ trước khi phân bổ. Một số khoản thường gặp:
- Thường là cố định: khấu hao máy móc và nhà xưởng, tiền thuê nhà xưởng, lương bộ phận quản lý phân xưởng, bảo dưỡng định kỳ, bảo hiểm tài sản.
- Thường là biến đổi: điện năng chạy máy, vật liệu phụ, khí nén, nhiên liệu, chi phí gia công tính theo sản phẩm.
- Cần phân tích thêm: tiền điện có phần công suất cố định và phần tiêu thụ, lương công nhân có phần lương cơ bản và phần theo sản phẩm.
Trên S4-APC, mỗi nhóm chi phí (Cost Pool) chọn tài khoản nguồn, lọc thêm theo bộ phận, class hoặc kho, và được khai báo là biến đổi hay cố định. Nhóm cố định tự động đi qua bước tính theo công suất bình thường. Khoản dùng chung cho nhiều xưởng, như điện tổng nhà máy, được chia theo tỷ lệ phần trăm khai báo sẵn, hệ thống kiểm tra tổng các tỷ lệ phải đủ một trăm phần trăm. Cách chọn tiêu thức phân bổ phù hợp cho từng nhóm được trình bày trong bài tiêu thức phân bổ chi phí sản xuất chung trên NetSuite.
Ví dụ minh họa: tháng sản lượng thấp thì phần ghi 632 là bao nhiêu?
Tỷ lệ hấp thụ bằng sản lượng thực tế chia cho công suất bình thường; chi phí sản xuất chung cố định đưa vào giá thành bằng tổng chi phí cố định nhân tỷ lệ hấp thụ, phần còn lại ghi 632. Ví dụ minh họa: một dây chuyền có khấu hao 100.000.000 đồng/tháng, công suất bình thường 10.000 sản phẩm/tháng. Bảng dưới so sánh ba tháng có sản lượng khác nhau.
| Tháng | Sản lượng thực tế | Tỷ lệ hấp thụ | Đưa vào giá thành (đồng) | Ghi giá vốn 632 (đồng) | Chi phí cố định/sản phẩm (đồng) |
|---|---|---|---|---|---|
| Tháng A | 9.000 | 90% | 90.000.000 | 10.000.000 | 10.000 |
| Tháng B | 6.000 | 60% | 60.000.000 | 40.000.000 | 10.000 |
| Tháng C | 1.500 | 15% | 15.000.000 | 85.000.000 | 10.000 |
Điểm đáng chú ý là chi phí cố định trên mỗi sản phẩm giữ ổn định ở 10.000 đồng (100.000.000 / 10.000) dù sản lượng biến động. Nếu dồn toàn bộ 100.000.000 đồng vào sản phẩm, chi phí cố định mỗi sản phẩm của tháng C sẽ là 66.667 đồng (100.000.000 / 1.500), cao gấp hơn sáu lần tháng bình thường, chỉ vì nhà máy thiếu đơn hàng chứ không phải vì sản phẩm tốn kém hơn.
Vì sao dồn toàn bộ chi phí cố định vào tồn kho là sai?
Vì cách làm đó vừa lệch chuẩn mực vừa làm sai lệch quyết định kinh doanh. Khi tháng sản lượng thấp mà toàn bộ chi phí cố định vẫn đi vào giá thành, tồn kho cuối kỳ bị đánh giá cao, lợi nhuận của tháng bị đẩy sang kỳ sau, đúng lúc doanh nghiệp đang gặp khó khăn về đơn hàng. Bộ phận kinh doanh nhìn giá thành tăng vọt và có thể nâng giá chào, làm mất thêm đơn hàng. Khi kiểm toán, phần chi phí cố định chưa hấp thụ nằm trong tồn kho thường là khoản bị đề nghị điều chỉnh, kéo theo giải trình mất thời gian.
Ngược lại, khi phần chưa hấp thụ được tách riêng vào 632, ban giám đốc nhìn thấy đúng một con số: chi phí của công suất bỏ trống trong tháng. Đây là thông tin quản trị có giá trị hơn nhiều so với một giá thành đơn vị bị đội lên.
Tách chi phí công suất bỏ trống theo VAS 02, ngay trên NetSuite
Khai báo công suất bình thường theo xưởng, tự tính tỷ lệ hấp thụ và ghi phần chưa hấp thụ vào giá vốn 632, có duyệt và lưu vết.
Khai báo công suất bình thường cho từng xưởng trên NetSuite như thế nào?
Trên S4-APC, công suất bình thường được khai báo ở cấp Costing Unit, tức từng xưởng, kèm đơn vị đo phù hợp với xưởng đó. Một xưởng có thể gồm nhiều kho, và cấu hình được thiết lập theo từng công ty con. Mỗi cấu hình có ngày bắt đầu và ngày kết thúc hiệu lực, nên khi nhà máy đầu tư thêm máy và nâng công suất từ tháng sau, kế toán chỉ cần tạo cấu hình mới, các kỳ đã khóa không bị ảnh hưởng.
Công suất bình thường là tham số quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến số ghi 632, nên mọi thay đổi phải qua người phê duyệt; bản ghi chờ duyệt chưa có hiệu lực. Mỗi Costing Run lưu lại bản chụp cấu hình đã dùng khi tính, để sau này kiểm toán hỏi “tháng 3 tính theo công suất bao nhiêu” thì có ngay câu trả lời. Khi xác định con số, doanh nghiệp nên dựa trên mức sản lượng trung bình trong điều kiện bình thường, có tính đến thời gian bảo dưỡng theo kế hoạch, thay vì lấy công suất thiết kế tối đa của máy.
Khi nào người duyệt được chấp nhận đưa khoản bất thường vào giá thành?
Mặc định, S4-APC tách phần chi phí cố định chưa hấp thụ sang 632. Tuy nhiên, có những tình huống kế toán trưởng đánh giá rằng khoản chênh lệch không phản ánh sự kém hiệu quả, ví dụ tháng có số ngày làm việc ít hơn theo lịch nghỉ lễ đã dự kiến. Khi đó người duyệt có thể chấp nhận đưa khoản bất thường vào giá thành. Mỗi lần như vậy đều được ghi lại lý do và người duyệt, tạo dấu vết rõ ràng cho kiểm toán thay vì một điều chỉnh không tên trong bảng tính.
Báo cáo nào cho ban giám đốc thấy chi phí của công suất bỏ trống?
Báo cáo hiệu suất công suất cho biết từng xưởng đang chạy bao nhiêu phần trăm công suất bình thường và phần chi phí cố định chưa hấp thụ tương ứng. Trên dashboard giá thành, ban giám đốc thấy ngay chỉ số giá thành theo xưởng, xu hướng giá thành đơn vị qua các kỳ và danh sách việc cần xử lý trước khóa sổ. Kết hợp với bảng giải thích chênh lệch giá thành giữa hai kỳ, doanh nghiệp tách được phần tăng giá thành do chi phí đầu vào với phần do sản lượng thấp.
Chi phí sản xuất chung cố định chỉ là một trong ba khoản bất thường VAS 02 yêu cầu tách khỏi giá thành; hai phần còn lại là hao hụt nguyên vật liệu vượt định mức và cách đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ để chi phí được chia đúng giữa thành phẩm và dở dang. Bức tranh tổng thể được trình bày trong bài giá thành sản xuất thực tế trên NetSuite, còn chi tiết 18 báo cáo có trên trang S4 eSuite VN Actual Costing.
Câu hỏi thường gặp
Chi phí sản xuất chung cố định là gì?
Là các chi phí sản xuất gián tiếp thường không thay đổi theo số lượng sản phẩm, như khấu hao máy móc, nhà xưởng, bảo dưỡng và chi phí quản lý phân xưởng.
Công suất bình thường theo VAS 02 được hiểu thế nào?
Là số lượng sản phẩm đạt được ở mức trung bình trong các điều kiện sản xuất bình thường, không phải công suất thiết kế tối đa của máy.
Phần chi phí sản xuất chung cố định không phân bổ hạch toán vào đâu?
Khi sản lượng thực tế thấp hơn công suất bình thường, phần không phân bổ được ghi nhận vào chi phí trong kỳ, thực tế hạch toán vào giá vốn hàng bán 632.
Tỷ lệ hấp thụ được tính thế nào?
Tỷ lệ hấp thụ bằng sản lượng thực tế chia cho công suất bình thường. Ví dụ 1.500 sản phẩm trên công suất 10.000 cho tỷ lệ 15%.
Thay đổi công suất bình thường trên S4-APC có cần duyệt không?
Có. Công suất bình thường là tham số quan trọng, thay đổi phải qua người phê duyệt và có ngày hiệu lực, các kỳ đã khóa không bị ảnh hưởng.
Nguồn tham khảo
- Bộ Tài chính - Quyết định 149/2001/QĐ-BTC ban hành Chuẩn mực kế toán số 02 Hàng tồn kho (file văn bản, vbpl.vn)
- Thư viện Pháp luật - Toàn văn Chuẩn mực kế toán số 02 Hàng tồn kho
- MISA AMIS - Hướng dẫn hạch toán Tài khoản 154 theo Thông tư 99/2025
- MISA AMIS - Hướng dẫn hạch toán Tài khoản 155 theo Thông tư 99/2025
